Cách mắc điện tim chuẩn Bộ Y tế

Cách mắc điện tim
0
(0)

Trong y khoa, điện tim là một loại thử nghiệm không xâm lấn, không gây đau đớn. Nó giúp cho các bác sĩ có thể chẩn đoán ra những vấn đề bất thường của tim. Thông thường, bác sĩ dùng máy điện tim để phát hiện các loại bệnh về tim: Rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim, suy tim, chẩn đoán một số thay đổi và rối loạn tim nói chung. Đo điện tim còn được gọi là đo điện tâm đồ( gọi tắt là EKG hoặc ECG). Đây là một loại khảo sát cơ bản giúp ghi lại những hoạt động điện học của cơ tim

Hướng dẫn cách mắc điện tim và đọc kết quả điện tim chuẩn bộ Y tế

Tham khảo các mắc điện tim cụ thể ngay dưới đây!

1.Cách mắc điện cực

tim 1

2.Giải phẫu học tim

tim 2

 

tim 3

tim 4

 

3.Giấy điện tim

Thời gian: 

1 ô nhỏ = 0,04s

5 ô nhỏ = 1 ô lớn = 0,2s

Biên độ:

1 ô nhỏ = 1mm= 0,1 mV

5 ô nhỏ = 10 mm =1 mV

Tốc độ giấy khi đo = 25 mm/s; 50 mm/s

Test mV chuẩn có hình chữ nhật với biên độ cao là 10 mm = 1 mV, các góc phải là góc vuông.

 

4.Các bước đọc kết quả điện tim bạn cần nắm rõ 

Cần khảo sát các sóng cần khảo sát một cách có hệ thống:

– Hình dạng sóng

– Thời gian, biên độ

– Trục hay hướng của sóng khảo sát trên cả 2 mặt phẳng

Phức bộ điện tâm đồ

tim 5

I. Nhịp

– Nhịp bình thường hay còn được gọi là nhịp Xoang, nó được tạo ra bởi xung động điện hình thành trong nút SA và đặc trưng bởi:

– Sóng P đồng dạng tần số 60-100 lần/phút, đều.

– Sóng P (+) ở DII, aVF; P (-) ở aVR.

– Mỗi sóng P đều đi kèm với 1 QRS.

– PP dài nhất – PP ngắn nhất < 0,16s

– Nhịp chậm hơn 60 lần/phút thì được gọi là nhịp Chậm xoang, nhịp Nhanh xoang là loại nhịp nhanh hơn 100 lần/ phút. 

II. Tần số

Bình thường thì nhịp xoang có tần số từ 60-100 lần/phút. Và tần số của tim được xác định dễ dàng bằng cách đếm số ô vuông lớn giữa 2 chu chuyển tim. Tần số tim đo được bằng 300 / số ô lớn.

III. Sóng P

Sóng P là sóng đầu tiên của ECG và chỉ ra hoạt động lan truyền xung động điện ngang qua nhĩ (khử cực và tái cực nhĩ).

– Hình dạng sóng P bình thường sẽ có hình vòm thẳng (smooth), không nhọn và không có khấc (notch).

– P (+) ở DI, DII, V4-6 và aVF.

– P (-)ở aVR.

– P thay đổi ở DIII, aVL và các chuyển đạo trước tim khác.

– Thời gian < 0,12s.

– Biên độ < 0,25 mV (< 2,5 ô nhỏ).

– Trục sóng P từ 0 đến +75°.

IV. Khoảng PR

– Khoảng PR là khoảng thời gian được tính từ khi bắt đầu sóng P đến khi bắt đầu phức bộ QRS. Đây là thời gian cần thiết để xung động truyền từ nhĩ qua nút nhĩ thất đến các sợi tế bào cơ tâm thất (Purkinje network).

– Khoảng PR bình thường từ 0,12 – 0,20s (0,12 – 0,22s).

– Phần lớn thời gian khoảng PR sẽ phản ánh hiện tượng dẫn truyền chậm qua nút AV (bị ảnh hưởng bởi hệ giao cảm và phó giao cảm), vì vậy khoảng PR thay đổi theo nhịp tim: khi nhịp tim nhanh – khoảng PR ngắn hơn đó là khi nhịp tim chậm; khoảng PR cũng kéo dài hơn ở những bệnh nhân lớn tuổi.

V. Phức bộ QRS

Phức bộ QRS bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ
Phức bộ QRS bình thường và bệnh lý trên điện tâm đồ

– Phức bộ QRS là thành phần quan trọng nhất của ECG, nó biểu hiện ra sự lan truyền xung động ngang qua cơ thất (khử cực và tái cực).

– Quy ước:

* Sóng âm đầu tiên là sóng Q;

* Sóng dương đầu tiên là sóng R (có thể không có sóng Q đi trước);

* Sóng âm đi sau sóng R là sóng S …

* Các sóng đi sau đó, tùy theo sóng âm hay dương được gọi là R’, S’ …

1- Thời gian: Bình thường từ 0,05 – 0,10s. 

QRS > 0,12s là biểu hiện bất thường.

2- Biên độ

* Biên độ có giá trị bình thường trong giới hạn rộng, được tính từ đỉnh sóng dương cao nhất đến sóng âm nhất.

* Điện thế QRS thấp bất thường khi < 5mm ở các chuyển đạo chi và < 10mm ở các chuyển đạo trước tim (hay < 5mm ở V1-V6, < 7mm ở V2-V5, < 9mm ở V3-V4).

3- Sóng Q:

– Bình thường có thể gặp sóng Q ở aVR và DIII, q ở V5-V6.

– Thời gian sóng Q bình thường < 0,03s.

– Mất đi sóng q ở V5-V6 được xem là bất thường.

4- Sóng R:

– Bình thường tăng dần biên độ từ V1 → V4 hay V5. Việc mất đi diễn tiến này của sóng R có thể chỉ ra bất thường.

– R cao ở V5, V6­ gặp trong lớn thất trái; sóng R giảm dần biên độ từ V1 → V5 có thể chỉ ra bệnh lý NMCT.

5- Sóng S:

Thay đổi nhỏ dần từ V1 – V6 (xem hình).

6- Trục QRS:

– Cách tính trục: Phải tính trên cùng 1 hệ thống quy chiếu.

* Dựa vào biên độ QRS ở các chuyển đạo DI, DII, DIII.

* Dựa vào biên độ QRS ở DIII và aVF.

* Bình thường trục điện tim từ -30° đến +90°.

VI. Đoạn ST

– Đoạn ST là khoảng thời gian cơ tâm thất còn trong giai đoạn khử cực, được tính từ cuối QRS (điểm J) đến sóng T.

– Điểm quan trọng nhất của đoạn ST là sự thay đổi vị trí của nó so với đường đẳng điện (ST level) và hình dạng của đoạn ST (ST shape).

– Thông thường đoạn ST thường nằm ngang với đoạn TP (đường đẳng điện) hay chênh rất ít. Đôi khi đoạn ST nâng lên cao < 1mm ở chuyển đạo chi và < 2mm ở chuyển đạo trước ngực, nhưng không bao giờ nằm dưới đường đẳng điện > 0,5 mm.

Hình ảnh thay đổi đoạn ST
Hình ảnh thay đổi đoạn ST

VII. Sóng T

– Sóng T là sóng biểu hiện thời gian hồi phục của các tâm thất.

– Cần chú ý đến 3 đặc điểm của sóng T như sau: Direction – Shape – Height.

* Direction:

. Dương ở DI, DII, V3, V4, V5, V6.

. Âm ở aVR.

. Thay đổi ở DIII, aVL, aVF, V1 và V2.

“Sóng T dương ở aVL và aVF nếu QRS cao hơn 5mm”.

* Shape:

Hình hơi tròn và không đối xứng. Sóng T có khấc (notch) thường gặp ở trẻ con bình thường, tuy nhiên đôi khi gặp trong viêm màng ngoài tim. Sóng T nhọn và đối xứng (dương hoặc âm) nghi ngờ NMCT.

* Height:

Bình thường không quá 5mm ở chuyển đạo chuẩn và không quá 10mm ở chuyển đạo trước tim. Thông thường sóng T cao gợi ý bệnh lý ĐM vành, tăng Kali, TBMMN.

Thời gian của sóng T không có vai trò quan trọng nên không được sử dụng. Nó chỉ được sử dụng trong việc đo QT.

VIII. Sóng U

Sóng U bình thường không gặp trên ECG, nếu có là một sóng nhỏ đi sau sóng T.

Sóng U cùng chiều với sóng T và bằng khoảng 1/10 sóng T về biên độ.

Nguồn gốc sóng U còn chưa chắc chắn (nó có thể là hiện tượng tái cực của các cấu trúc nội mạc ví dụ như là cơ nhú hay mạng Purkinje).

IX. Khoảng QT

– Khoảng QT được tính từ đầu QRS đến cuối sóng T, là thời gian hoạt hóa và hồi phục tâm thất. QT giảm đi khi nhịp tim gia tăng, vì vậy khoảng QT phải được điều chỉnh theo nhịp tim và được ký hiệu là QTc.

– BAZETT đưa ra công thức tính QTc như sau: QTc = QT / RR

Công thức tính trên được điều chỉnh bởi Hodge, Macfarlane, Witch Lawrie:

+ QTc = QT + 1.75 (ventricular – 60).

+ Giá trị bình thường của QTc khoảng 0,41s.

Mong là những thông tin về cách mắc điện tim – cách đo điện tim chuẩn Bộ Y tế mà Thiết bị Y tế Tận Tâm vừa cung cấp sẽ hữu ích với bạn đọc. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ tại Website: https://thietbiytetantam.com

 

Bài viết này hữu ích với bạn chứ?

Bấm vào 5 ngôi sao để đánh giá nó!

Đánh giá trung bình 0 / 5. Số phiếu bầu: 0

Chưa có đánh giá! Hãy là người đầu tiên đánh giá bài viết này.

Hỏi và đáp (0 bình luận)